Yên
Tử cách thị xã Uông Bí (Quảng Ninh) 14 km về
phía Tây Bắc. Theo Thiền sử, Yên Tử là nơi
ra đời và phát triển thiền phái Trúc Lâm
với ba vị tổ: Trần Nhân Tông (1258-1308)
pháp danh Ðiều Ngự Giác Hoàng, là ông tổ thứ
nhất. Pháp Loa tôn giả (tên thật Ðồng Kiên
Cương, 1284 -1330) là ông tổ thứ hai. Lý Ðạo
Tái (1254 -1334 ) pháp danh Huyền Quang tôn giả, là
ông tổ thứ ba.
Quần
thể di tích Yên Tử có 11 chùa, rất nhiều
am, tháp trải từ Bí Thượng (chân Dốc
Ðỏ) đến chùa Ðồng. Ðường lên Yên
Tử phải qua nhiều dốc và suối. Linh
Ðộng Tự (chùa Lân), có 25 ngọn tháp bằng
gạch và đá, đẹp nhất là tháp Tịch
Quang (niên đại 1727), nơi giữ xá lị
sư Tuệ Ðăng, người sáng lập ra
chùa này. Vuợt dốc Dây Ðiều, Vá Quỳ đến
gò đất rộng, bằng phẳng có 8 ngôi tháp
trong đó có 3 tháp đá cao 3 tầng, ngọn cổ
nhất có niên đại 1758. Khu Tháp Tổ rộng
khoảng 3000m2, có 97 ngọn tháp. Giữa lăng
là Tháp Tổ có tên Huệ Quang Kim Tháp, nơi giữ
xá lị của Trúc Lâm Ðệ Nhất Tổ. Tháp
gồm 46 tảng đá ghép, bệ tháp hình đài
sen, 102 cánh, có pho tượng Ðức Ngài Ðiều
Ngự bằng đá cẩm thạch, cao 62 cm.
Chùa
Hoa Yên là nơi thờ Trúc Lâm tam tổ. Tượng
Trần Nhân Tông lớn nhất đặt ở
giữa hậu cung. Chùa có cây đại 700 tuổi.
Sau chùa, có tháp Ðộ Nhân, xây bằng gạch tráng
men, gần 8 thế kỷ dãi dầu mưa nắng
mà vẫn bền màu. Vượt qua nhiều suối
dốc nữa sẽ lên tới vị trí cao nhất
của Yên Tử - bia chữ Phật cao 3m, rộng
khoảng 2m. Gần bia là chùa Ðồng. Tương
truyền, mỗi lần đánh chuông ở chùa
Ðồng thì mây mưa kéo tới. Yên Tử xưa
là trung tâm Phật giáo ở Việt Nam. Ngày nay, Yên
Tử là di tích lịch sử, văn hoá rất
có giá trị của Việt Nam.
|