|
Núi
Bài Thơ là ngọn núi đá vôi được
hình thành từ kỷ Ðê-vôn, trong cuộc vận
động tạo sơn In-đô-nê-si-a. Ðỉnh
cao nhất của núi có hình ngọn mác chĩa lên
trời, đấy là cốt + 168 m, phía dưới
có nhiều ngọn, nhiều mỏm chông chênh, vách
đá dựng đứng, những lèn đá tai
mèo nhọn hoắt làm cho núi có một vẻ cổ
kính, huyền bí. Từ nhiều góc độ người
ta nhìn thấy núi có lúc dáng như hổ phục,
lúc có dáng như sư tử vờn mồi, lúc có
dáng như con rồng sắp cất cánh. Núi Bài Thơ
thuở xưa có tên núi Rọi Ðèn, tên chữ là Truyền
Ðăng Sơn. Tương truyền rằng, ngày
xưa lính thú gác trên núi hễ có giặc giã đến
thì đốt lửa báo về kinh thành. Từ đó
xuất hiện tên núi Truyền Ðăng. Năm
1468, vào dịp mùa xuân, năm Quang Thuận thứ
9, đời vua Lê Thánh Tông - cháu nội của Lê
Lợi - đưa quân đi tuần ở vùng biển
Ðông Bắc, có dừng thuyền ở chân núi Truyền
Ðăng, phía giáp với Vịnh Hạ Long, để
uống rượu ngâm thơ. Xúc động trước
cảnh đẹp sơn thủy hữu tình của
thiên nhiên, nhà thơ - nhà vua Lê Thánh Tông đã cho khắc
một bài thơ lên vách đá tạm dịch như
sau:
Nước lớn mênh mông, trăm
sông chầu vào
Núi non, la liệt rải rác như quân cờ,
vách đá liền trời
Có tráng trí, nhưng lúc mới dựng nghiệp
vẫn theo người, như quẻ Hàm hào
cửu tam (đã định)
Nay một tay mặc sức tung hoành, quyền
uy như thần gió
Phía bắc, bọn giặc giã như hùm beo đã
dẹp yên
Vùng biển phía đông, khói chiến tranh đã
tắt
Muôn thuở trời Nam, non sông bền vững
Bây giờ chính là lúc giảm việc võ, tu sửa
việc văn.
Bài
thơ này được khắc trên một vách
đá khá phẳng, cách mặt đất chừng
2,5 m, gồm 56 chữ Hán, khắc liền một
mạch, không phân câu như hiện nay ta chép lại.
Trong 56 chữ trên có 21 chữ đã mờ hẳn,
không thể đọc nổi, những chữ
còn lại rất mờ. Trước phần thơ
có phần lạc khoản (đề tựa) gồm
49 chữ, cũng bị phân hóa gần như hoàn
toàn. May mắn, bài thơ trên có chép trong thư tịch
cổ, nên đó chính là chỗ dựa của các
nhà nghiên cứu. 261 năm sau, vào năm 1729 chúa An
đô vương Trịnh Cương, một nhà
thơ có tiếng thời Lê - Trịnh, cũng đem
quân đi tuần qua đây. Ông cho đóng quân đồn
trú dưới chân núi Truyền Ðăng. Ðọc thấy
bài thơ của vua Lê, chúa Trịnh bèn họa lại
bằng một bài thốt ngôn bát cú, lấy theo
vận "yên" của bài trước, dùng lại
4 chữ "thiên" "quyền" "yêu"
niên" trong bài của vua Lê.
Bản dịch thơ như
sau:
Biển
rộng mênh mang, nước dâng đầy
Núi chìm xuống nước, nước tràn mây
Bàn tay tạo hóa sao khéo dựng
Cảnh đẹp thần tiên một chốn
này.
Mùi tanh giặc thác còn đâu đó
Cỏ hoa sương khói vẫn còn đây
Ba quân tướng sĩ đều vui vẻ
Bữa tiệc biển khơi chén rượu
đầy.
(Bản dịch của Hào Minh)
Bài
thơ được khắc theo lối chữ
hành, trên một vách đá nghiêng xuống đất,
nếu tránh được hủy hoại của
nước mưa, đến nay còn rõ nguyên, rất
dễ đọc. Ðến đầu thế kỷ
này nhiều tao nhân, mặc khách đi du ngoạn
vùng Hạ Long, gặp bài thơ này lại cho khắc
7 bài thơ nữa, có bài chữ Hán, có bài chữ
Quốc ngữ trên những vách đá lân cận.
Tổng số bây giờ có 9 bài thơ còn lưu
truyền trên vách đá. Khu vực này trước
đây gọi là phố Lò Vôi (vì có người nung
vôi bán). May mà chưa ai phá những bài thơ để
nung vôi! Nhưng các công trình phụ của nhà dân
đang "bao vây" những bài thơ, du khách
phải len chân vào sau chuồng lợn, nhà bếp
mới đọc được thơ cổ.
UBND TP Hạ Long có nổ lực giải phóng được
một mặt bằng khoảng 30 m2 phía
trước bài thơ Lê Thánh Tông, còn những bài
khác thì tạm để nguyên đó. Do có nhiều
thơ trên vách núi, có lẽ đầu thế kỷ
này dân chúng mới đổi tên núi Truyền Ðăng
thành núi Bài Thơ. Ngày nay, phố Lò Vôi (cũ) được
mang tên mới là phố Bài Thơ. Ca dao đầu
thế kỷ này có câu:
Hồng
Gai có núi Bài Thơ
Có hang Ðầu Gỗ, có chùa Long Tiên
Chùa
Long Tiên nằm ở phía đông núi Bài Thơ, một
quay ra hướng đông, giáp với phố Bến
Tàu cũ nay đổi thành phố Long Tiên. Chùa được
khởi công xây cất vào năm1939 và hoàn thành năm
1942. Tuy được xây dựng vào giữa thế
kỷ này, nhưng kiểu cách, kiến trúc đều
theo phong cách kiến trúc đầu Nguyễn. Ngoài
có tam quan, qua một sân rộng là bái đường,
trên nóc có tượng ghép gốm rồng chầu
mặt nguyệt, hai bên là hai cung tả hữu.
ở chính điện trên tam quan có ba chữ nổi
Long Thọ Tiên, nhân dân rút gọn, gọi nôm na là
chùa Long Tiên. Gọi là chùa nhưng lại thờ
cả thánh. ở chính cung thờ Ðức Phật
Thích Ca Mâu ni, Phật Bà Quan Âm và các chư Phật.
Hữu cung thờ Ðức Thánh Trần - Trần
Hưng Ðạo, Tả cung thờ Vân Hương
Thánh Mẫu. Trong chùa Long Tiên có rất nhiều câu
đối, đại tự được điêu
khắc rất tinh vi, thể hiện trình độ
điêu khắc khá cao. Trong các đồ thờ
của chùa có Bộ Cửu Long nổi tiếng
miêu tả chín con rồng chầu Phật - là một
công trình khắc gỗ công phu. Hội chùa Long Tiên
kéo dài hết tháng giêng, hai âm lịch hàng năm thu
hút rất nhiều khách thập phương. Tín
đồ, phật tử Hải Phòng khi đi lễ
hội ở đền Cửa Ông, thế nào cũng
rẽ vào chùa Long Tiên "xin Ðức Thánh Trần"
một quả cầu tài, cầu lộc. Phiá tây
núi Bài Thơ còn có đền thờ Ðức ông Trần
Quốc Nghiễn - một vị danh tướng
đời Trần. Tương truyền ông được
đắc cử canh giữ biên ải vùng Ðông Bắc,
trấn ở vùng Hồng Gai, đã lập nhiều
công to trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.
UBND T.P Hạ Long đã trùng tu và phục hồi
di tích văn hóa này.
Núi
Bài Thơ không chỉ là di tích lịch sử- văn
hoá- tôn giáo, mà còn gắn liền với những
sự kiện cách mạng những thập kỷ
qua. Ngày nay, đứng từ phiá tây thành phố
Hạ Long nhìn ra hướng đông, người
ta thấy một mỏm đá nhô ra ở tầm
cao khoảng 50 m có hình thù như một con sư
tử. Dân gian gọi đó là mỏm Mỏ Quạ.
Vào đêm 30-4, rạng sáng 1-5-1930, người đảng
viên cộng sản trẻ tuổi Ðào Văn Tuất
(người gốc Hải Phòng) được
đặc khu ủy Hồng Gai giao phó đã treo
lá cờ búa liềm lên mỏm Mỏ Quạ để
kỷ niệm ngày Lao Ðộng quốc tế. Chuyện
kể lại rằng anh Ðào Văn Tuất, khi ấy
là công nhân mỏ Hồng Gai, đã khéo léo giấu
lá cờ trong bụng, cờ có bọc giấy bản,
anh trèo lên mỏm đá nhô ra đường, nơi
dễ trông nhất. Anh rút lui an toàn sau khi làm nhiệm
vụ. Sáng hôm sau gió bay, giấy bản tung ra, một
lá cờ đỏ búa liềm phất phới bay
như vẫy chào thợ thuyền vùng lên đấu
tranh chống áp bức. Bà con khu mỏ xúm xít ra xem,
ngưỡng mộ lá cờ. Còn bọn cảnh
sát thì tức lồng lộn, không làm sao hạ được
cờ xuống, chúng sợ có mìn nổ chậm
cài ở gần cờ nên không dám xông vào ngay. Thợ
mỏ Hồng Gai được một phen hả
hê. Bây giờ phía dưới mỏm Mỏ Quạ
có biển di tích đề rõ sự kiện trên.
Thời
kháng chiến chống Mỹ, ở phiá trên mỏm
núi này là nơi đặt còi báo động, một
thời gióng giả báo hiệu chiến đấu
cho người dân vùng mỏ. Ði lên nữa là di tích
của trạm ra-đa thời chống Mỹ.
Phiá dưới núi Bài Thơ, có nhiều hang động
khá lớn. Rộng rãi nhất là hang số 6. Nơi
đây thời chiến tranh từng là nơi sơ
tán của nhiều cơ quan, xí nghiệp, chủ
yếu là nơi tập kết của lực lượng
tự vệ Hồng Gai. Sau mỗi đợt bọn
Mỹ đánh phá, người ta đưa người
bị thương về đây cấp cứu,
người khỏe cũng trú ở đây để
hôm sau lại bám trụ sản xuất. Núi Bài Thơ
trở thành một cứ điểm quan trọng
thời đánh Mỹ. Máy bay Mỹ mấy lần
định nhào xuống bỏ bom vào núi, nhưng
do địa thế quá hiểm trở, núi Bài Thơ
như ngọn thác nhô lên giữa vùng trời Ðông
Bắc vẫn "Ðứng đó hiên ngang", không
hề suy suyển. Núi Bài Thơ gắn bó với
lịch sử, với đời sống nhân dân
vùng Ðông Bắc, trở thành một biểu tượng
hào hùng của đất mỏ Quảng Ninh giàu
đẹp và kiên cường. Năm 1992, Bộ
Văn hóa Thông tin nước ta ra quyết định
xếp hạng núi Bài Thơ là di tích lịch sử-
văn hóa của đất nước. Hiện
nay, từng bước UBND Tỉnh Quảng Ninh
và thành phố Hạ Long đang có nhiều đề
án giữ gìn, tôn tạo núi Bài Thơ, trùng tu những
công trình kiến trúc cổ quanh núi, mở đường
thuận lợi cho khách du lịch có thể tới
thăm những danh thắng |